Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
tên thật là Karol JoseF Wojtyla
chào đời ngày 18/05/1920 tại
Wadowice, Ba Lan (Poland), trong
một gia đình đạo hạnh.
-Chịu Phép rửa tội ngày
20/6/1920. Ngài lớn lên với cha
mẹ ngài ở Rynek. Sau đó gia đình
dọn tới Krak Via Tyniecka.
-Ngài rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi
và lãnh phép Thêm Sức lúc 18
tuổi.
-Thụ phong linh mục năm 1946
tại Krakow lúc 26 tuổi.
-Làm Giám mục năm 1958 tại
nhà thờ chính tòa Wavel lúc 38
tuổi.
-Làm Tổng Giám mục Krakow
năm 1964, lúc 46 tuổi
- Được phong làm Hồng Y do Đức
GiáoHoàng Phaolô VI vào năm
1967, lúc 47 tuổi.
-Được bầu làm vị Giáo hoàng
thứ 246 ngày 16/10/1978 lúc
5:15 chiều là vị thứ 263 kế vị
Thánh Phêrô ở tuổi 58.
Gia đình:
- Cha là Karol Wojtyla là đại uý
trong quân đội Ba lan, qua đời
năm 1941
-Mẹ là Emilia Kaczorowska, qua
đời năm 1929 lúc Ngài mới 9
tuổi
-Anh là Edmund qua đời năm
1932 lúc Ngài được 12 tuổi
Năm 1926, Ngài vào tiểu học và
rồi lên trung học Marcin
Wadowita, trong những năm tại
đây Ngài đã đoạt điểm rất cao và
làm chủ tịch Hội tông đồ Đức Mẹ.
Năm 1934, Ngài đã bước vào sự
nghiệp sân khấu với diễn xuất
lần đầu ở Wadowice, và vào năm
1939, Ngài làm việc cho "Phòng
thâu 38", một nhóm sân khấu
điện ảnh khảo nghiệm của
Tadeusz Kudlinski trong lúc theo
học tại Đại học Jagellonian.
Người thanh niên trẻ Karol tận
hiến đời cho Mẹ Maria khi Ngài
muốn trở thành một minh tinh
màn ảnh. Sau khi vừa tận hiến,
thì một tư tưởng đến trong đầu
Karol: "Tôi muốn là một linh
mục"... nhưng suy nghĩ Ngài lại
không muốn là một linh mục mà
muốn trở thành một minh tinh
màn ảnh, thế nhưng ý tưởng trở
thành linh mục cứ hiện lên trong
trí và rồi sau này, Ngài đã trở
thành một linh mục thật!
Khi
thế
chiến thứ hai lan tràn Âu Châu,
thanh niên tuấn tú Karol Wojtyla
đang "dùi mài kinh sử" tại Đại
Chủng viện ở Kraków vào năm
1942, được lén lút tổ chức dưới
hầm tòa Giám mục. Ban ngày các
chủng sinh bị xung công đi "lao
động là vinh quang" trong một
hầm đá; tối về học dưới ngọn
đèn cháy leo lét, mù mờ.
Một hôm vào tháng 2 năm 1944,
sau giờ "đục đá" trở về, Karol bị
một chiếc xe nhà binh Đức đụng
phải, rồi bỏ chạy. Karol ngã lăn
ra, bất tỉnh bên vệ đường. Một
phụ nữ, không biết từ đâu chạy
đến, đã làm công việc người
Samaritan nhân hậu: Karol được
bà đỡ dậy và dìu vào nhà thương
cấp cứu. Nhờ đó, Karol được cứu
sống.
Khi ra khỏi bệnh viện, Karol đã cố
gắng đi tìm ân nhân ấy để cám
ơn, nhưng không gặp được bà.
Các bác sĩ cho biết người đàn bà
đó có những nét phụ nữ Do Thái.
Phải chăng rồi, bà đã bị hốt đi và
đưa vào lò thiêu sinh cùng với
trên 6 triệu người Do Thái đồng
hương? Sau này lên ngôi Giáo
Hoàng, chính ngài đã kể lại câu
chuyện hi hữu và tuyên bố: "Tôi
mong được gặp lại người đàn bà
đã cứu sống tôi và hôn tay bà để
tri ân". Nhân câu chuyện "lịch sử"
ấy, hồi đầu, một tờ báo thiên tả
của Ý đã xuyên tạc cho rằng, Tân
Giáo Hoàng đã có "bồ"!
Năm 1945 Quân đội Nga giải
phóng Krakow khỏi ách thống trị
của Đức Quốc xã và rồi Balan trở
thành một quốc gia cộng sản.
Karol Wojtyla lãnh nhận thừa tác
vụ linh mục năm 1946, và rồi đậu
tiến sĩ Thần học tại Đại học
Angelicum ở Rôma với đề tài luận
ántiến sĩ "Những trở ngại của
đức tin trong những việc làm của
thánh Gioan Thánh giá".
Sau đó, từ 1948 đến 1951, ngài
đã phục vụ như một linh mục xứ
ở Kraków; đoạn trải qua một
năm tu nghiệp Triết tại Đại học
Jagiellonian. Từ 1952 đến 1958,
Karol Wojtyla được bổ nhiệm làm
giáo sư Luân lý tại Đại học CG
Lublin và làm tuyên úy sinh viên.
Năm 1958 linh mục "trẻ tuổi tài
cao" đã được tấn phong Giám
mục phụ tá, rồi Tổng Giám mục
Giáo phận Cracovie, và năm 1967,
đượccố Giáo Hoàng Phaolô VI
vinh thăng Hồng y (Cardinal).
Ngài đã tham dự Công đồng
Vatican II năm 1963 và đã đóng
góp vào nhiều tài liệu, một trong
những tài liệu sau này trở thành
Tuyên ngôn Tự do tôn giáo.
Cùng với hàng Giám mục Ba Lan,
nhất là với Hồng y Wyszynski,
ngài phải đương đầu với chế độ
cộng sản áp đặt trên hơn 85%
người Công giáo Ba Lan, để bênh
vực đức tin và quyền tự do của
con người. Hai mục tiêu ấy, ngài
càng mạnh mẽ tiếp tục sau khi
lên bậc Giáo Hoàng.
Ngày 22-10-1978, lần đầu tiên ra
mắt với công chúng trước tiền
đường Thánh Phêrô, tân Giáo
Hoàng đã xác quyết tuyên bố (Mt
14:27): "Đừng sợ!"
"Duc in altum" - "Vâng lời Thầy,
con sẽ thả lưới".
Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II
đã thổi vào Giáo hội một nguồn
sinh lực mới theo tinh thần Công
đồng Vaticanô II. Chỉ vài tháng
sau khi nhậm chức, ngài đã lên
đường "đi tìm anh em" trong các
đoàn chiên khắp thế giới. Đức
Giáo Hoàng đã thực hiện tất cả
trên 100 chuyến tông du đến
129 quốc gia trên thế giới. Ngài
được xem là một trong những vị
Giáo hoàng tông du nhiều nhất,
phong thánh nhiều nhất. Đến
đâu, Giáo Hoàng cũng "củng cố
đức tin của anh em", lôi kéo rất
nhiều người, khởi động sự chú ý
đặc biệt của quần chúng đến sự
hữu hình và vai trò của Giáo hội.