PHÚ NHAI - 482 NĂM ĐÓN NHẬN HẠT GIỐNG TIN MỪNG, 82 NĂM CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG

1. HẠT GIỐNG TIN MỪNG ĐẦU TIÊN ĐƯỢC GIEO TẠI VIỆT NAM.

“Cây có cội, nước có nguồn". Sức sống của Phú Nhai hôm nay là thành quả của gần 500 năm hạt giống Tin Mừng được gieo trồng. Cũng là thành quả của hơn 300 năm cây Đức tin được vun xới và phát triển, hơn ba trăm năm Hội Thánh chia sẻ muôn nỗi thăng trầm của quê hương, và cũng là hơn 300 năm chan hòa hồng ân Thiên Chúa.

“Chúng ta hãy ca ngợi những bậc vĩ nhân, cũng là cha ông của chúng ta.

Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam có một lịch sử phong phú và oai hùng bậc nhất, với trên 130.000 đấng Tử đạo. Lịch sử đã chứng minh Giáo hội ở Việt Nam là một Giáo hội được xây dựng bằng xương máu của các chiến sĩ đức tin,
“những chiến sĩ trung liệt và can trường không kém các chiến sĩ ngày xưa trong thế kỷ khai nguyên của Giáo hội”.

Ôn lại lịch sử, không phải chỉ để ca tụng hay lấy đó làm hãnh diện, mà còn để thêm can đảm, hy sinh và bền tâm nối gót tiền nhân. Bởi vì đối với chúng ta, cái chết của các đấng Tử đạo nêu cao tinh thần đạo đức, chí hy sinh và gương anh dũng. Các ngài chết, để luôn sống trong ký ức chúng ta. Các ngài chết, mà công nghiệp của ngài vẫn còn đấy. Các ngài chết, mà sinh lực của các ngài vẫn tiềm tàng phong phú, làm cho những hạt giống đã được gieo vãi phát sinh hoa trái.

CÓ NHỮNG NGƯỜI RA ĐI GIEO GIỐNG...

Những tiến bộ của ngành hàng hải giúp Christophe Comlomb đến được Mỹ Châu năm 1492, cũng đã nối dài những bước chân truyền giáo của các thừa sai vượt đại dương, đến quê hương Việt Nam.

Ở miền Bắc, trong khu vực nhà Lê (Nam Triều) theo
Khâm định Việt sử có ghi như sau: “Năm Nguyên Hòa Nguyên niên (1533) đời Lê Trang Tông, có một dương nhân tên là I-ni-khu đi đường biển lén vào giảng đạo Gia Tô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”. Đây là vị thừa sai thứ nhất được nói đến trong lịch sử Việt Nam. Giáo sĩ I-ni-khu là người nước nào và thuộc dòng tu nào? Không một sử liệu nào nói rõ. Có tác giả cho ngài là một linh mục dòng Đaminh Tây Ban Nha, nhưng cũng có tác giả khác nói I-ni-khu thuộc dòng Phansinh hoặc dòng Tên quốc tịch Bồ Đào Nha.

Nếu I-ni-khu là linh mục dòng Đaminh, thì không thể là cha Inigo de Santa Maria như sử gia Gispert muốn nói đến. Vì cha Inigo từ Manila sang đất Chân Lạp năm 1603, rồi cũng năm ấy cha qua đời trên đường trở về Manila, để xin thêm cán bộ truyền giáo. Như vậy, nếu cha Inigo cũng có mặt ở đất Bắc vào năm 1533, thì khi từ trần, cha phải thọ tới 100 tuổi. Một linh mục đã già gần 100 tuổi thiết tưởng không bề trên nào sai đi từ Manila sang Chân Lạp giảng đạo. Nếu không phải là cha Inigo de Santa Maria, thì có thể là một trong những thừa sai Đaminh Bồ Đào Nha, thuộc tỉnh dòng Santa Cruz de las Indias Orientales, là tỉnh dòng đảm nhận công việc truyền giáo khắp vùng Đông Nam Á bấy giờ.

Rất có thể I-ni-khu là một giáo sĩ dòng Phansinh Bồ Đào Nha, vì các cha dòng này cũng như dòng Đaminh đã bắt đầu giảng đạo ở Á Đông từ đầu thế kỷ XVI, nhất là những giáo sĩ thuộc hai quốc tịch Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Còn giả thuyết cho rằng I-Ni-khu thuộc dòng Tên không thể chấp nhận được, vì thánh Inhaxu tổ phụ dòng Tên năm ấy 1533 còn đang học ở Paris, và dòng Tên được châu phê năm 1540. Nói tóm, ngoài những chi tiết mà Khâm định Việt sử kể lại, chúng ta phải kết luận như Bonifacy rằng: Người ta không biết gì hơn về vị giáo sĩ có tên là I-ni-khu này”.Tưởng không cần quan tâm nhiều đến sử liệu này, bởi vì tuy có trong Khâm định Việt sử, nhưng không phải ở phần “Chính sử” (chữ lớn) mà ở phần “Dã sử” (chữ nhỏ).

Cùng thời điểm này, một tác phẩm nói đến người Công giáo họ Đỗ, một trong người Việt đầu tiên, nếu không phải chính là người đầu tiên, đã theo đạo Thiên Chúa. Theo gia phả họ Đỗ, thì ông Đỗ Hưng Viễn, người làng Bồ Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, là con thứ hai của cụ Đỗ Biều, một vị đại thần triều Lê Anh Tông (1556-1573), đã theo đạo Hoa Lang. Ông Đỗ Hưng Viễn đã theo đạo, chịu phép Rửa trong một chuyến đi sứ, đến vùng buôn bán của người Bồ Đào Nha, khoảng trước năm 1580.

2. LỊCH SỬ GIÁO XỨ VÀ THÁNH ĐƯỜNG

Cuối thế kỷ XVIII, Phú Nhai bắt đầu có một họ đạo lẻ, các giáo xứ cho xây dựng một nhà nguyện nhỏ ở trại xóm Nam thuộc giáp Nam.Từ năm 1773-1785, nhà nguyện này đã bị triệt phá, các giáo sĩ và nhiều giáo dân bị bắt, bị kết tội, bị xử tự. Chính vì vậy, trước cửa nhà thờ Phú Nhai hiện nay có một khu mộ tập hợp hài cốt của 83 giáo sĩ và giáo dân chết trong thời kỳ này.


Vào năm 1858 tại Lộ Đức, nước Pháp, Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ tên là Bernadette và xưng mình là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Cùng thời gian này, các cộng đoàn Công giáo Việt Nam nói chung và giáo phận Bùi Chu nói riêng đang rơi vào một hoàn cảnh bi đát, việc giữ đạo và truyền giáo gặp nhiều khó khăn và thử thách. Theo sử gia M. Gispert, trước chiếu chỉ “phân sáp” năm 1861 vô cùng khốc liệt và độc ác thời vua Tự Đức, lại thêm ông Tổng đốc tỉnh Nam Định tên là Trịnh Quang Khanh vừa ghét đạo, vừa muốn lập công với triều đình, nên càng lùng bắt giáo dân dữ dội.


Trong hoàn cảnh bi đát, khó khăn, đen tối nhất của lịch sử Công Giáo Việt Nam nói chung, nhất là của địa phận Bùi Chu nói riêng, năm 1858 (tức là chỉ sau 10 năm thành lập địa phận), Đức cha Valentino Berrio Ochoa Vinh biết không thể sống với con chiên mình được nữa, nên ngài phải trở lại hầm trú Hương La (tỉnh Bắc Ninh). Trước khi ra đi, đức cha và cha chính Emmanuel Rianô Hoà đã cùng nhau dâng lên Thiên Chúa và Đức Mẹ Vô Nhiễm lời cầu nguyện tha thiết và khấn hứa xây cất một đền thờ dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm cùng nhận Người làm bổn mạng địa phận khi Thiên Chúa ban cho giáo dân thoát khỏi cuộc bách hại và được hưởng thái bình:
"Nếu Mẹ chở che Giáo phận cho khỏi cơn bách đạo, được bình an, thì Giáo phận sẽ xây dâng kính Mẹ một Ðền Thánh nguy nga xứng đáng và sẽ nhận Ðức Mẹ Vô Nhiễm làm bổn mạng".
.
Trước lời cầu xin khẩn thiết và sốt sắng của các đấng bậc và đoàn chiên đang dần tan tác, Đức Mẹ đã khấn nhậm lời. Tuy chưa có bằng an ngay, nhưng tinh thần giáo dân và giáo sĩ mạnh dạn hơn. Những người quá yếu đuối đã bỏ đạo thì đã thống hối ăn năn trở lại, mọi người sống đạo nhiệt thành hơn trước, Giáo phận dần dần đã được bình an, việc cấm Đạo dần lắng dịu. Năm 1862, nhà Nguyễn bỏ lệnh cấm đạo.


Tuy Đức Cha Vinh đã tử đạo năm 1861 (được phong hiển thánh ngày 19-6-1988) nhưng Cha Chính Hòa cũng đã được đưa lên hàng giám mục vào năm 1868. Nhớ lời khấn hứa năm xưa, ngài đã cùng Cha Chính Isaac Barquero Ninh khởi sự xây Đền Thánh Đức Mẹ và nhận danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội làm bổn mạng địa phận.Đức Cha đã chọn Phú Nhai, một làng toàn tòng và đông dân bậc nhất của địa phận để thực hiện.Ngài cũng đã cho tổ chức trọng thể lễ mừng kính tước hiệu “Đức Mẹ Vô Nhiễm” vào ngày 8-12 hàng năm và kêu gọi các đấng bậc, con dân của giáo phận tập trung về Phú Nhai vào dịp này để mừng kính và tạ ơn Đức Mẹ.

Ngôi nhà thờ mới được xây dựng lấy tên là Nhà thờ dâng kính Đức Bà khỏi tội. Đây là ngôi nhà thờ làm bằng gỗ lợp ngói quy mô tương đối nhỏ hẹp nên chưa đáp ứng được nhu cầu hành lễ của giáo dân.

Năm 1881, Cha chính Isaac Barquero Ninh thay thế bằng một thánh đường khác đồ sộ hơn, cột xà bằng gỗ, gồm chín gian lợp ngói, cột xà bằng gỗ theo kiểu kiến trúc Phương Đông. Đây là ngôi thánh đường mà toàn bộ hệ thống vì, kèo, cột, cửa đều làm bằng gỗ lim. Ngôi nhà thờ được xây dựng theo một dãy dọc, cửa ra vào ở về hai bên theo chiều mái chảy, một đầu dốc là bàn thờ thánh, đầu kia là cửa ra vào chính. Việc xây dựng xoay dọc lại kiến trúc đã tạo nên độ sâu cho ngôi nhà thờ.

Năm 1916, thời đức cha Munãgori Trung (1907 - 1936), để kỷ niệm 700 năm khánh hội dòng Đa Minh, ngôi nhà thờ xây dựng năm 1886 trên đất Phú Nhai được hạ giải để xây dựng một ngôi nhà thờ mới theo phong cách Châu Âu đồ sộ, nguy nga, lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ. Cha Chính Y vẽ đồ án và trông nom xây cất, 7 năm mới hoàn tất. Khánh thành đúng vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 8/12/1923 do Đức Cha Munagori Trung, Giám Mục Bùi Chu chủ toạ, hầu hết các linh mục địa phận và trên 50.000 giáo dân tham dự.

Nhưng chỉ sáu năm sau, ngày 30-9-1929, bão lớn làm đổ hai tháp chuông đằng trước và vặn đổ toàn bộ khu nhà thờ. Cha già Phạm Văn Nguyện 82 tuổi, địa phận Thanh Hoáhiện đang hưu dưỡng tại nhà hưu dưỡng 12772 Loisse St, Garden Grove, CA 92841 kể lại. Hồi đó, ngài hơn kém 20 tuổi, thỉnh thoảng dịch những bài báo từ Pháp văn sang Việt văn đăng trên tờ Trung Hoà nhật báo, tờ nhật báo Công Giáo đầu tiên tại Việt Nam. Trung Hoà nhật báo tường thuật cơn bão đó như sau:

Trận bão chỉ kéo dài hơn kém một giờ mà đã làm đổ 48 nhà thờ, trong đó có nhà thờ Phú Nhai. Nhà thờ đổ vào hồi 8 giờ sáng vì lý do trần nhà thờ bị mưa, chứa quá nhiều nước, bị gió lớn làm sập trần và kéo theo đổ cả nhà thờ. Thiệt hại về nhân mạng là 16 người chết, trong đó có ông từ đang đốt đèn. Rất may trận bão chỉ kéo dài có một giờ, nếu kéo dài lâu hơn, thì số thương vong rất nhiều. Dân làng ai ai cũng vội vàng thu dọn nhà cửa rồi vào trú ẩn trong nhà thờ. Chưa kịp vào thì nhà thờ đã bị sập.


Địa phận Bùi Chu vẫn cố gắng và lần thứ ba, với sự đóng góp của toàn thể giáo dân Bùi Chu và sự trợ giúp của các giáo phận trong cả nước, công cuộc tái thiết đã được tiến hành ngay. Sau 4 năm nỗ lực,
Giáo phận Bùi Chu lại hoàn thành một Đền Thánh đồ sộ, mới nguy nga hơn để dâng Đức Mẹ Vô Nhiễm mang phong cách kiến trúc Gothique Pháp vào năm 1933, với chiều dài 88m, rộng 27m, cao 30m và hai ngọn tháp chuông cao 44m. Tại hai ngọn tháp có đặt 4 quả chuông là sản phẩm được đặt đúc từ Pháp với trọng lượng lần lượt là 2.000kg, 1.200kg, 600kg và 100kg. Xung quanh nhà thờ Phú Nhai có Chặng đường Thánh Giá của Chúa.


Nhà thờ Phú Nhai được xây dựng lại trên một khu đất rộng sáu sào Bắc Bộ. Pho tượng Thánh đặt ở giữa sân trước nhà thờ, phía sau hàng đá. Tâm điểm là ngôi nhà thờ được xây cao nhất. Từ đó các dãy nhà ngang, nhà hội quán, nhà xứ và các công trình phụ khác được xây bám theo tâm điểm chính của công trình. Đằng trước nhà thờ trồng rất ít cây cối ruộng vườn của Nhà chung, cây lưu niên được trồng cả về phía cuối và phía sau nhà thờ.

Mặt chính diện ngôi nhà thờ được tạo thành ba tầng. Tầng trên cùng là hai tháp chuông ở về hai bên xây nhô cao và mỗi tháp chuông lại có nhiều cột trụ tạo thành những cây nến khổng lồ vươn lên trời xanh. Cả ba lớp cửa ở các tầng đều theo phong cách gôtích, cửa nhọn đầu đã tạo nên một cảm giác kiến trúc được đẩy mãi lên cao.

Trải qua gần 80 năm hiện diện với bao biến động của thiên nhiên và thời cuộc, Đền thánh đã qua nhiều lần tu sửa, lớn nhất là vào năm 1990 nhưng về đại thể vẫn không có gì thay đổi. Giáo dân Phú Nhai tự hào về tầm cỡ kiến trúc của nhà thờ, đồng thời cũng tràn đầy niềm vui khi Đền thánh Phú Nhai được Đức Giáo hoàng Benedict XVI nâng lên hàng
Tiểu Vương Cung Thánh Đường– một danh hiệu tôn vinh đặc biệt mà vị đứng đầu Giáo hội ban tặng cho một số nhà thờ do tính cách cổ kính hoặc có tầm quan trọng trong lịch sử phát triển của giáo hội năm 2008.


Theo quy định, khi ngôi nhà thờ được nâng lên hàng tiểu Vương cung thánh đường sẽ được Toà thánh trao cho 2 biểu trưng của Đức Giáo hoàng. Một là cái chuông (tintinnabulum) dùng để báo tin Đức Giáo hoàng hay người thay mặt Đức Giáo hoàng đến. Hai là cái dù bằng lụa có hai màu vàng, đỏ (conopacum) dùng để che cho Đức Giáo hoàng. Để trở thành tiểu Vương cung thánh đường, nhà thờ đó phải là nhà thờ cổ kính được xây dựng theo các kiến trúc cổ điển, có tầm vóc. Nhà thờ chỉ dành riêng cho việc thờ phượng, là nơi lưu giữ di hài các thánh nhân hay những hoạ phẩm, điêu khắc có giá trị nghệ thuật…Ngoài ra, nhà thờ cũng phải có một ban lễ tân đủ sức đảm nhiệm phục vụ các lễ lớn. Giờ đây, Phú Nhai trở thành trung tâm chiếu tỏa đời sống Đức tin, trung tâm của các hoạt động Phụng vụ và Mục vụ của Giáo Phận Bùi Chu.

Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Nhai không chỉ là một công trình tín ngưỡng, điểm tham quan du lịch của du khách gần xa mà còn là đối tượng nghiên cứu của các kỹ sư xây dựng, các kiến trúc sư và các nhà nghiên cứu văn hóa.Trong tâm trí của nhiều người, tòa thánh Phú Nhai có một sức lôi cuốn huyền bí, nhất là vào những ngày lễ Thánh.Giáo đường là nơi mọi người hướng đến.Ở đó luôn có những hoạt động văn hóa văn nghệ sôi nổi được tổ chức rất long trọng.


3. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC:
Sự du nhập của nghệ thuật kiến trúc nhà thờ trong quá trình truyền Đạo vào Việt Nam.

Cùng với quá trình truyền bá đạo Thiên Chúa là sự du nhập kiến trúc nhà thờ phương Tây vào Việt Nam. Trước năm 1874,nhà thờ Thiên Chúa giáo Việt Nam có quy mô nhỏ bé giống như nhà dân, cửa được mở ra hai bên cho tín đồ thực hiện “lễ vọng” vào những ngày người đến dự lễ quá đông. Vật liệu xây dựng nhà thờ lúc đầu cũng rất đơn giản, mang tính chất “tạm bợ”, chủ yếu là tranh tre, nứa lá hoặc bằng gỗ.

Từ sau Hoà ước Giáp Tuất 1874 (trong đó có điều khoản đảm bảo cho Thiên Chúa giáo được truyền bá tự do), nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam được xây dựng kiên cố hơn với hình thức đa dạng hơn, có thể quy về hai phong cách kiến trúc: phong cách châu Âu (thường gọi là nhà thờ Tây) và phong cách dân gian Việt nam (thường gọi là nhà thờ Nam).

Đặc trưng của lối kiến trúc theo phong cách châu Âu là kiểu kiến trúc gôtích với tháp chuông cao vút hình tiêm. Lối kiến trúc gôtích với hình tháp nhọn, vòm mái đòi hỏi kỹ thuật xây dựng khác hẳn với lối kiến trúc truyền thống của người Việt. Qua việc xây dựng những công trình kiến trúc này, những người thợ Việt Nam có cơ hội được tiếp cận với kỹ thuật xây dựng của phương Tây: lối trang trí, họa tiết trong nhà thờ châu Âu như trang trí mặt tiền nhà thờ, trang trí cửa sổ, cửa ra vào, trang trí tháp chuông, vòm nhỏ hai bên hông và vòm lớn trên cung thánh, nơi đặt tượng Chúa, tượng Đức Mẹ Maria và các Thánh.

Nhưng số nhà thờ được xây dựng theo phong cách châu Âu như vậy không nhiều, hầu hết các nhà thờ Thiên Chúa ở Việt Nam đều được kiến trúc theo phong cách dân tộc Việt Nam, hoặc có sự đan xen giữa hai phong cách: vừa có yếu tố châu Âu, vừa có yếu tố truyền thống. Kiến trúc phương Tây đã được các bàn tay tài hoa của người Việt biến thể tạo ra một loại hình nhà thờ mới góp phần làm phong phú loại hình nhà thờ Thiên Chúa giáo Việt Nam.

Nhà thờ Phú Nhai được xây dựng lại trên một khu đất rộng sáu sào Bắc Bộ. Nhà thờ gốc có phong cách kiến trúc Gothic đậm dấu ấn Tây Ban Nha, sau được xây lại theo phong cách kiến trúc GothicPháp.

Nhà thờ có hình thức đăng đối nghiêm cẩn như nhiều ngôi thánh đường lớn khác. Ngay từ xa, hai gác chuông của nhà thờ hiện lên sừng sững giữa cánh đồng. Qua một hào nước vào khuôn viên nhà thờ, hai bên là hai công trình tượng đài của thánh Đa Minh và các Thánh tử đạo Việt Nam.

Bên phải là tượng đài Thánh Đa Minh (phiên âm của Dominico), là vị thánh Công giáo sáng lập ra dòng truyền giáo Dominico từ thế kỉ 12 và vẫn còn hoạt động đến ngày nay. Đây là dòng truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam trong thế kỉ 16, do đó thánh Đa Minh rất được tôn sùng, và được lập tượng thờ ở nhiều nơi. Bên trái là một tượng đài bằng đá nơi táng nhiều hài cốt của những người Việt tử đạo từ hàng trăm năm trước, trong đó có 6 người được phong Thánh tử đạo (trong số 117 Thánh tử đạo của Việt Nam).

Mặt bằng không gian nhà thờ được cấu trúc theo kiểu Basilica truyền thống (kiểu chữ thập La Tinh, nguyên tắc nhà thờ thời kỳ Phục Hưng) mang hình cây thập giá (tượng trưng cho
Chúa Giêsu
) tạo thành ba gian chính: gian hành lang, gian giáo dân và gian Cung thánh. Mở đầu là một không gian đón tiếp nhỏ phía trên có gác đàn (nơi dành cho ca đoàn, nhạc công và hội kèn đồng), tiếp theo là không gian dành cho các con chiên nghe giảng và kết thúc bởi không gian long trọng dành cho cha xứ hành lễ. Giữa hai khu vực này là không gian chuyển tiếp lớn dưới một mái vòm hình bán cầu, cánh bên phải là nơi thờ thánh Đaminh – Tổ phụ Dòng giảng thuyết, cánh trái là thờ thánh Vinhsơn. Lòng nhà thờ cao vút uy nghi.Bên dưới là 4 hàng ghế, một bên cho nam, một bên cho nữ trong những buổi cầu nguyện, dâng lễ. Mái vòm nhà thờ này cao gấp rưỡi nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và nhà thờ Hà Nội.

Tuy không nhất thiết theo chuẩn, nhưng các nhà thờ theo kiểu phương Tây thường có 6 cột mỗi bên, tổng cộng 12 cột tượng trưng cho 12 Thánh tông đồ. Nhà thờ có dạng dọc, bàn thờ ở cuối cùng. Theo như truyền thống, bàn thờ chính của nhà thờ phải quay về hướng Thành thánh Jerusalem, do đó nhà thờ ở Việt Nam phải có bàn thờ quay về hướng Tây, cửa quay về Đông. Bên trong còn lưu giữ hài cốt các vị tử đạo, thánh nhân và các tác phẩm nghệ thuật Công giáo có giá trị lớn.

Hình thức mặt đứng cho thấy đặc trưng phong cách kiến trúc Gothique của công trình. Mặt chính chia thành ba phần với hai tháp chuông vút cao ở hai bên, mỗi tháp chuông lại có nhiều cột trụ tạo thành những cây nến khổng lồ vươn lên trời xanh, phần giữa thấp hơn được kết thúc bởi một đỉnh tường tam giác với cây Thánh giá như một điểm nhấn. Cả ba lớp cửa ở các tầng đều theo phong cách Gôtích, cửa nhọn đầu đã tạo nên một cảm giác kiến trúc được đẩy mãi lên cao.

Các mặt đứng nhà thờ sử dụng nhiều đường nét kiến trúc Gothique, cửa sổ hoa hồng trên mặt chính, các cửa đi và cửa sổ đều có dạng cuốn nhọn và được cấu trúc với số lượng lớn. Tuy nhiên nếu so với những nhà thờ Gothique ở Pháp thì các họa tiết trang trí mặt đứng ở nhà thờ Phú Nhai là tương đối đơn giản.
Mặc dù mặt chính chia thành ba phần nhưng nột thất nhà thờ lại được chia thành năm nhịp, nhịp giữa có kích thước lớn hơn hai lần các nhịp biên.Nội thất được trang trí dựa trên cơ sở các cuốn nhọn kiểu Gothique. Khu vực cung thánh được trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống Việt Nam với những chi tiết được chạm trổ hoa văn bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất tinh xảo, chịu ảnh hưởng của quan niệm thẩm mỹ truyền thống của người Việt: “đẹp vàng son, ngon mật mỡ” như nhà thờ Trung Lao (Nam Định), Hảo Nho ( Ninh Bình), Hà Hồi (Hà Tây), Phát Diệm (Ninh Bình)… Nơi đặt tượng Thiên Chúa, tượng Đức Mẹ, tượng các Thánh ở nhiều nhà thờ được làm bằng gỗ, chạm trổ hoa lá cầu kỳ và được sơn son thếp vàng, dân gian thường gọi là các toà vàng.

Hệ thống cửa sổ cuốn nhọn được lấp đầy bởi các bức tranh Thánh bằng kính màu làm cho không gian nột thất thêm huyền ảo.Như vậy nột thất nhà thờ được tạo nên bởi sự kết hợp hài hòa nghệ thuật trang trí Phương Đông và Phương Tây tạo ra mối giao hòa thú vị giữa hai nền văn hóa chính quốc và bản địa.

Phía trước nhà thờ còn có một quảng trường với tượng Thánh Đaminh ở bên phải và Lăng các thánh tử đạo bên trái.Quảng trường rộng lớn chứa được 50.000 người, giúp làm tăng giá trị cảnh quan của công trình.

Nhà thờ hiện nay có kích thước: 2 tháp cao 44m, dài 80 mét, rộng 27 mét, cao 30 mét. Hai tháp chuông cao 44 mét đặt 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng là: 2.000 kg - 1.200 kg - 600 kg và 100 kg. Khi khách tham quan đứng trên ngọn tháp cao của nhà thờ Phú Nhai sẽ được chiêm ngưỡng được toàn cảnh của Huyện Xuân Trường.

Sự kết hợp các yếu tố kiến trúc Phương Đông với những nguyên tắc tổ chức không gian nhà thờ công giáo truyền thống, sự hài hoà của công trình với cảnh quan thiên nhiên bản địa đã tạo ra được ấn tượng về một công trình Thiên Chúa giáo Việt Nam.

Với những giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, lại được xây dưng ở một vị trí trung tâm, nhà thờ Phú Nhai xứng đáng được coi là một di sản văn hóa của Nam Định, góp phần làm cho bộ mặt kiến trúc khu vực nam Nam Định thêm sinh động.