PDA

View Full Version : Lịch Sử Đền Thánh Thức Hóa



tuongnamxu
10-11-2010, 04:02 PM
Lịch Sử Đền Thánh Thức Hóa

Thời kỳ 1828- 1845

Thức Hóa nằm trong 14 ấp, trại vùng ven sông Sò, thuộc Tổng Hoành Thu được thành lập thời Minh Mệnh (1820-1841) con vua Gia Long. Nguyễn Ánh hiệu Gia Long nhờ sự trợ giúp của phương tây lấy lại ngôi vua năm ,1802. Năm 1820 Gia Long băng hà. Trong 18 năm trị vì, đất nước yên bình, thịnh vượng, mở mang mọi mặt trong đó chú ý đế khai hoang lập làng mở rộng diện tích nông nghiệp.

Trong tài liệu nghiên cứu lịch sử có ghi: ?Thế kỷ XIX. Nhiều công trình khai hoang xuất hiện ở vùng hạ châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (1) trong cả hai thời kỳ trên thì những công trình khai hoang do triều đình tổ chức là to lớn và hoàn thành nhanh chóng. Ở đồng bằng sông Cửu Long, triều đình đã huy động hàng vạn binh lính và dân phu dưới sự chỉ đạo của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại đào kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế, khai thác vùng tứ giác Long Xuyên (sau này là địa phận của người Thức Hóa di cư 54 tới ở). Ở ven biển Bắc Bộ, Nguyễn Công Trứ tổ chức hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn và hai Tổng Hoành Thu, Ninh nhất. Ở hai đầu đất nước đều đạt thành tựu rực rỡ. Do đất nước mở rộng, kinh tế nông nghiệp phát triển nên đời sống dân ,sinh ổn định đất nước yên bình- mọi mặt mở mang, trong đó đạo Công giáo cũng phát triển mạnh.

Khi Gia Long băng hà truyền ngôi cho con là Hoàng Ðảm hiệu Minh Mệnh (1820). Về mặt phát triển kinh tế, xã hội vẫn theo đường lối của vua cha, chú trọng mở mang đất đai nông nghiệp.Thức Hóa là một ấp thuộc hạ Châu Thổ sông Hồng- mảnh đất được khai lập giai đoạn này. Ðể rõ thêm lịch sử quê hương Thức Hóa, chúng ta xem sơ lược về công cuộc khai lập Tổng Hoành Thu (Trích văn bản của Phan Ðại Doãn).

Hoành Thu là tổng lớn (bao gồm Thức Hóa) nằm ven biển huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Ðịnh. Trước năm 1828 đây là vùng đất hoang, mới được bồi lên khoảng 40 năm (1780) là một phần trong cả vùng phù sa bồi rộng lớn của trấn Sơn Nam cũ. Cho đến cuối những năm 20 của thế kỷ XIX, Hoành Thu vẫn là rừng rú vẹt. Ngày nay khi đào sâu xuống lòng đất vẫn thấy dấu vết của cây cối hoang dại và vết tích của bãi biển. So với toàn bộ miền sa bồi ven biển Nam Ðịnh, thì Hoành Thu có đặc điểm địa lý riêng biệt. Chính do đặc điểm này, nên cách thiết kế làng xóm, thủy lợi có khác với Tiền Hải, Kim Sơn. Bắc và Ðông Hoành Thu là các làng cựu thuộc tổng Hoành Nha. Một giải phía đông chạy dọc theo sông Cồn, nhất là các làng được hình thành từ thế kỷ XV đến thế kỷ XII, như Quất lâm thượng, Quất lâm hạ, Ðan phượng, Thanh khiết, Tiên chưởng, Xa châu. Vì vậy việc khai hoang ở Hoành thu không tiến về Ðông lấn biển. Tây Hoành Thu là sông Ngô đồng, một nhánh của sông Hồng chảy ra biển qua cửa Hà lạn. Sông Ngô đồng nguyên trước đó khá rộng, cửa Hà lạn trước nằm trong đất liền, cách biển hiện nay khoảng 600m. Sông Ngô đồng còn gọi là sông Sò, có vị trí rất quan trọng.

Về thời điểm khai lập Tổng Hoành Thu, tài liệu ghi: ?Tổng Hoành Thu bắt đầu khai khẩn vào tháng 3 năm 1828. Ðến đầu năm sau thì được hình thành với 14 ấp, trại, giáp. Có 2850 mẫu ruộng đất và 301 suất đinh. Trong thời gian ngắn công việc khai hoang đã thành công. Cố nhiên nhiều năm sau vùng đất mới vẫn phải tiếp tục củng cố? (nguyên văn).

Ðây là 14 ấp, trại, giáp của tổng Hoành thu thời kỳ mới thành lập

Tên ấp trại và người đứng ,nguyên đơn lập ấp, trại:

1- Ấp Tồn thành 31 suất - Nguyễn Nhu, dân nghèo.
2- Ấp Bỉnh gy 31 suất ? Vũ Văn Huân, dân nghèo.
3- Ðịch giáo 32 suất ? Thức Hóa? có gì khác?

Theo tài liệu nghiên cứu lịch sử chung trong ?Ðại Nam Thực Lục Chính Biên? thì công cuộc khai lập đồng bằng sông Cửu Long và hạ châu thổ sông Hồng, đều ở triều đaị Gia Long- Minh Mệnh, từ 1802 đến 1840. Tuy nhiên được chia làm hai thời kỳ. Thời Gia Long khai khẩn theo phương thức ?cá nhân mtự phát?. Không mang tính cộng đồng và Chính phủ không hỗ trợ, nên thường là thất bại. Trong đó mảnh đất Thức hoá xưa- do ông Nguyễn Ðình Cẩn người Hải Dương chiêu mộ quân ở Hải Dương, Hưng yên đến khai khẩn lập ấp đầu thế kỷ XIX (1805- 1820) đã bị thất bại. Về ruộng đất: Ruộng đất khai hoang ở Hoành Thu cứ 100 mẫu thì 30 mẫu là đất ở, 70 mẫu là ruộng đất.

Ðất được chia làm 4 loại:

Ðất thổ cư, làm nhà, vườn, ao hồ.
Ðất tha ma, bãi thả trâu bò.
Ðất dựng đình chùa, nhà thờ.
Thức Hoá làm Thánh đường.

Ðất canh tác. Các loại ruộng đất trên được phân làm hai. Một nửa là ?Tư điền? gồm đất và ruộng thuần hoá được chia cho nguyên mộ, thứ mộ, tòng mộ, những người trực tiếp ứng mộ và tham gia lao động từ khi đắp đê ngăn mặn đến khi hoàn thành. Theo quy định của tổng Hoành Thu thì mỗi suất được hai mẫu ?tư điền quản nghiệp?. Tuy nhiên tùy theo mỗi Ấp, Ấp nào quai đê khai khẩn được nhiều thì phần mỗi suất tăng lên.

Thức Hóa có 31 suất, mỗi suất được 2,5 mẫu. Tư điền quản nghiệp, trong đó: Ðất là 1,8 mẫu, còn lại là ruộng. Ngoài tư điền tư thổ, còn lại là ruộng , công điền công thổ sau khi đã để lại làm đình, chùa nghiã điạ, nhà thờ. Thức Hoá để lại 6 mẫu Bắc Bộ làm khu Thánh đường, nhà xứ và 2 mẫu ở phía Tây bắc khu dân cư làm nghiã địa. Có nơi để lại ruộng lính (gọi là đồng binh), ruộng lão ruộng tư văn (Thức Hóa gọi là đồng quan- tức trùng 95). Loại ruộng này coi như nửa công, nửa tư. Còn lại một phân cho nhân đinh theo chế độ ruộng khẩu phần theo lệ quân điền Gia Long: Ba năm chia lại một lần. (Trích nguyên văn trang 28 cột một) Có chính sách quy chế rõ ràng, tạo mnên khí thế lao động mạnh mẽ, công việc nhanh chóng. Với tư liệu này, và bản di cảo bằng chữ Hán các cụ Thức Hóa để lại ?Lập Làng vào năm 1845? có hai lý do:

Lý do thứ nhất là: Năm 1829 mới ?hình thành? chứ chưa hoàn thành. Trong tài liệu nghiên cứu lịch sử có ghi: ?Việc quai đê gặp rất nhiều khó khăn gian khổ. Nguyễn Công Trứ phải về tận nơi xem xét, cứ đắp xong, đến mùa lũ, lại bị phá. Mấy năm sau mới hoàn thành khoảng 1832 (trang 28 cột 2) Trong thời gian ngắn, cuộc khẩn hoang đã thành công. Cố nhiên nhiều năm sau vùng đất mới, vẫn phải tiếp tục củng cố (Thức Hóa là 16 năm). (Trang 29 cột 2) .

Lý do thứ hai là: Triều đình thời ấy quy đinh. Nếu là làng phải có diện tích từ 600 mẫu và 50 suất đinh. Thức Hóa năm 1829 mới có 31 suất và phải đến năm 1845 mới hội đủ hai yếu tố: diện tích và suất đinh để lập làng. Như vậy năm 1845 là năm cha ông ta hoàn thành quai đê, đắp đê vững chắc ổn định, mở thêm diện tích và số người đến sau là tòng mộ, thứ mộ mới có đủ suất đinh, đủ ruộng đất để lập làng, có tên gọi: Làng Thức Hóa và cũng là Giáo Họ Thức Hóa. Song việc ghi chép xưa bằng chữ Hán lại chỉ ghi tóm tắt là: Lập làng năm 1845. Như vậy cũng là chính xác.

Tổ Hoành đã sử dụng điều kiện có sẵn, chỉ gia công nạo vét sâu rộng thêm, một nhánh của thượng lưu sông Ngô đồng (Sông Sò). Trên trục sông này dân các ấp đào mương dẫn nước- năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) người Hoành Thu lại hoàn thành 3 cống thoát nước ra sông Ngô đồng ở Du Hiếu, Thức Hoá và Hoành Nha. Như vậy cống Thức Hóa thường gọi là cống Tây, được xây dựng năm 1832 ... Khi thành lập các làng các xã, ấp, trại, giáp những quan hệ làng xóm cũng đặc biệt lưu ý; thường thì người cùng quê hương dòng họ đều được tổ chức trong cùng một , đơn vị cư trú ?điển hình như Thức Hóa trong số 31 người ứng mộ có tới 29 người họ Ðinh từ Phú Nhai đến?. Tình cảm họ hàng, quê hương, tín ngưỡng, tôn giáo cũng được xây dựng như quê cũ. Việc khai hoang thành lập làng Thức Hóa thực sự là một quá trình lao động gian khổ: Hai lần thất bại. Hai năm đắp đê (1828- 1829) và 15 năm củng cố đê điều, khai hoang phục hóa, làm thuỷ lợi, phân canh, phân cư đời sống ổn định để có một làng Thức Hóa vào năm 1845. Trong đó phải kể đến công lao to lớn ban đầu hình thành ấp Thức Hóa của ông Ðinh Viết Hưng, người lý trưởng đầu tiên- ứng đơn nguyên mộ lập ấp (1828-1829). Góp vào sự nghiệp chung lập tổng Hoành Thu làm nên một dấu ấn lịch sử quê hương.

Thức Hóa những năm 1950 trở về trước giai đoạn xây dựng và phát triển còn một dải ruộng phía Tây sông Sò. Lấy tỉnh lộ 21 làm trục đối xứng. Từ đường 21 trở lên đế Ðập Tầu gồm 2 cánh đồng; phía bắc khu?Chóp chài? quanh Miếu Bà 17 mẫu. Từ cống Ðập Tầu đến lộ 21, có diện tích 85 mẫu. Xưa gọi là Cồn Lung ? có thời gian gọi là đồng cụ Chánh Toàn. Từ đường 21 xuống giáp ấp Hà Lạn có 2 cánh đồng:cánh đồng giáp Hà lạn có diện tích 25 mẫu. Lúc đầu gọi là Ðồng Giang. Sau gọi là đồng cụ Cựu Hậu. Từ đồng Giang trở lên giáp lộ 21 là đồng Nam Ðồng. Dải ruộng trên trục lộ 21 cụ chánh Toàn có 20 mẫu, người nhiều nhất, cụ còn là người truyền giáo đỡ đầu xây dựng giáo họ Thanh Khê xưa thuộc xứ Thức Hóa, (nay thuộc xứ Trung Thành) nên dải đồng này gọi là đồng cụ Chánh Toàn. Dải ruộng dưới trục lộ 21, cụ Cưụ Hậu có 25 mẫu (nhiều ruộng nhất) cụ còn làm truyền giáo đỡ đầu xây dựng giáo họ Nam Ðồng- 1970 thuộc về trước thuộc xứ Thức Hóa ? nay thuộc xứ Trung Thành. Dải ruộng này xưa gọi là đồng trùng Nam đồng ? sau đổi tên là đồng cụ Cựu Hậu.

Danh sách 31 nguyên mộ lập làng:

1- ?ng Ðinh Viết Hưng ? Lý Trưởng
2- ?ng Ðỗ Viết Xuân
3- ?ng Dinh Viết Nhương
4- ?ng Ðinh Viết Huyến
5- ?ng Ðinh Viết Lai
6- ?ng Ðinh Viết Thạc
7- ?ng Ðinh Viết Nhậm
8- ?ng Ðinh Viết Khánh
9- ?ng Ðinh Ðức Dụ
10- ?ng Ðinh Viết Hào
11- ?ng Ðinh Viết Thiệu
12- ?ng Ðinh Năng Thi
|13- ?ng Ðinh Ðức Hậu
14- ?ng Ðinh Viết Tấn
15- ?ng Ðinh Khắc Thuật
16- ?ng Ðinh Viết Nhưng
17- ?ng Ðinh Viết Thiếu
18- ?ng Ðinh Viết Liên
19- ?ng Ðinh Viết Uý
20- ?ng Ðinh Viết Sự
21- ?ng Ðinh Viết Tuyến
22- ?ng Ðinh Viết Hiệu Sâm
23- ?ng Ðinh Viết Tam
24- ?ng Ðinh Viết Lục
25- ?ng Ðinh Viết Thất
26- ?ng Ðinh Viết Tảo
27- ?ng Ðinh Viết Thịnh
28- ?ng Ðinh Viết Tường
29- ?ng Ðinh Quang Huy
30- ?ng Ðinh Viết Thế
31- ?ng Ðinh Viết Hiển

THỨC H?A TỬ V? ÐẠO

Thời kỳ đầu vua Tự Ðức (1847 ? 1855) cấm đạo, chủ yếu là bắt chém giết người giảng đạo. Còn đối với người dân theo đạo ? Tự Ðức nhắc nhở: ?Ra sức dụ kẻ đạo Datô bỏ đàng tà, cùng bắt nó làm việc tế thần và cúng tổ tiên. Khỏi một năm kẻ nào còn cứng lòng, cố chấp thì phải thích tự vào má; hết hai năm nếu còn bất khẳng, thì đàn ông sẽ phải xung quân, còn đàn bà bắt làm tôi các quan?... Những quy định trên cùng với việc bắt giết mặc lòng, dấu chỉ người theo đạo một nhiều và nhiều người xưng đạo ra tỏ tường. Việc hành đạo ở Thức Hóa vẫn ở kỳ bình yên... vì là nơi dân cư mới. Tuy nhiên thượng thư Nam Ðịnh Nguyễn Ðình Tân, năm 1856 sức cho các phủ huyện ?khai sổ nhân danh các xã có đạo, cùng biên tên các kẻ có đạo chẳng kỳ đàn ông, đàn bà. Ðến ngày đã hẹn thì sai quây vây các họ có đạo mà xông vào bắt bổ đạo?. Lúc đó Thức Hóa còn yên.

Tình hình càng ngày càng phức tạp hơn khi Hoàng Bảo là anh trai Tự Ðức khởi binh ở miền trong. Ngoài Bắc cũng có một số người chống lại triều đình như Lê Huy Cự (Bắc Ninh) và Cao Bá Quát (Bắc Ninh) nhà vua nghi nan và đổ lên đầu các người có đạo. Năm 1861 ? Tự Ðức ra chỉ cấm đạo. Ðiều thứ nhất: Hễ ai có đạo Datô dù nam nay nữ, già, trẻ thì phải phân sáp vào các làng lương dân. 26 Thức Hóa Miền Ðông Hoa Kỳ 27 Ðiều thứ hai: Mỗi một làng cứ 5 người thì phải nhập một quân Datô. Ðiều thứ ba: Các làng toàn tòng Datô phải phá bình trị. Ðiều thứ bốn: Các điền thổ những làng ấy phải phân chia cho các làng lân can cầy cấy và nộp thuế cho vua. Ðiều thứ năm: Các kẻ đi đạo Datô phải thích tự vào má, một bên hai chữ tả đạo, một bên tên phủ huyện (Sách đã dẫn trang 88). Sau khi Tự Ðức ra chỉ dụ trên, quan thượng thư Nguyễn Ðình Tân ra sức vây bắt người theo đạo như kế hoạch đã đề ra. Năm ấy Thức Hóa đã bị bắt 28 chủ hộ, trong đó có cả lý trưởng cựu Ðinh Viết Hưng. Những người bị bắt phải giam tại Nam Ðịnh, bị cầm tù, bị cầm tù, bị cực hình tra tấn buộc phải ?quá khóa?. Nhưng tất cả đều ?bất khẳng? nên đã phải đeo gông giải sang Quỳnh côi Thái bình chịu tử vì đạo. Các vị anh hùng tử đạo của người Thức Hóa đó là:

1- Phêrô Ðinh Viết Nhuần. Bị cắt cổ chết
2- Ðaminh Ðinh Viết Tuất, bị đánh chết
3- Ðaminh Ðinh Viết Hiếu, bị đốt chết
4- Ðaminh Ðinh Viết Ánh, bị chôn sống
5- Phêrô Ðinh Viết Hai, bị chôn sống
6- Ðaminh Ðinh Viết Uông, bị cắt cổ chết
7- Gioan Ðinh Viết Tấn, bị cắt tiết chết
8- Ðaminh Ðinh Viết Trữ, bị chôn sống
9- Phanxicô Ðinh Viết Toan, bị cắt tiết chết
10- Ðaminh Ðinh Viết Tuy, bị cắt cổ chết
11- Ðaminh Ðinh Viết Hiêng, bị cắt cổ chết
12- Ðaminh Ðinh Viết Cận, bị chôn sống
13- Ðaminh Ðinh Viết Triển, bị cắt tiết chết
14- Gioan Ðinh V. Hoán, bị cắt cổ chết
15- Ðaminh Ðinh Viết Hiệu, bị đốt chết
16- Phêrô Ðinh V. Siêu, bị đốt chết
17- Ðaminh Ðinh V. Khánh, bị đốt chết
18- Ðaminh Ðinh Viết Thuật, bị đốt chết
19- Ðaminh Ðinh Viết Phổ, bị đốt chết
20- Ðaminh Ðinh Viết Triều, bị đốt chết
21- Gioan Ðinh Viết Thùy, bị cắt cổ chết
22- Phêrô Ðinh Viết Hưng, bị đốt chết
23- Ðaminh Ðinh Viết Huy, bị chém chết
24- Ðaminh Ðinh Viết Uý, bị cắt tiết chết
25- Ðaminh Ðinh Viết Nhiêu, bị cắt cổ chết
26- Ðaminh Ðinh Viết Hiển, bị cắt tiết chết
27- Tôma Ðinh V. Cung, bị cắt cổ chết
28- Ðaminh Ðinh Viết Miêng, Hài cốt tại Phú nhai.

Ngoài số hành quyết trên cò hàng chục người trốn thoát, sống chui, sống lủi. Dân làng, đàn bà trẻ con không những đau xót về nỗi mất mát: Kẻ mất cha, người mất con, mất chồng, mất an hem ruột thịt. Bên cạnh là nỗi sợ, cũng phải chạy trốn, phân tán nơi này nơi khác để khỏi bị bắt phân sáp sang các làng dân lương. Nguyện đường và taì sản giáo họ bị triệt phá... Mọi sự kiện hết sức thảm khóc thê lương của người Thức Hóa sau16 năm lập làng (1845 ? 1861) một dấu ấn ghi vào lịch sử quê hương để lại muôn đời sau. Lịch sử địa phận trung ghi: ... Trong 5 năm Tự Ðức cấm đạo (1856 ? 1861). Ðịa phận Trung mất: Một vain, sáu nghìn người, ba Ðức Cha, 38 cụ Linh Mục tử vì đạo (trang 99). - ?Phỏng một vạn người kỳ mục phải giam cầm vì đạo, phải cấm cốc mà chết - hay là phải đi lưu. Có độ 100 làng bị phá thành bình địa, khoảng hai nghìn họ đạo bị mất gia tài, điền sản, độ 300 ngàn bổn đạo bị phân sáp vào các làng lương dân?. ?Còn các nhà thờ, các nhà chung, nhà tràng, nhà tiểu nhi, nhà chị em thì phá hết. (Sách đã dẫn trang 100). Tự Ðức điên cuồng cấm đạo Thiên Chúa, nhưng thế và lực một ngày một suy yếu do chế độ hà khắc, nhân dân chán ghét. Triều đình chia rẽ bè phái, quan lại tham nhũng, trong nước nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình, mối nguy cơ đe dọa từ bên ngoài ngày một tăng. Và cuối cùng năm 1862 Tự Ðức đã phải ký hòa ước với Pháp ngày 05 -01 ? 28 1862. Ngày 13-01- 1862. Tự Ðức ra chỉ thị từ bỏ cấm đạo. Kể từ năm 1864 Thức Hóa trở lại thời kỳ bình yên, tiếp tục củng cố và ổn định đời sống. Từ 1864 đến 1900, 36 năm ấy Thức Hóa với ?thiên thời, điạ lợi, nhân hoà?- phát huy tiềm năng kinh tế là nông nghiệp và khai thác thủy sản. Về nông nghiệp là nơi đất rộng, được thuần hóa dần, diện tích canh tác ngày một mở rộng, luá năng suất mỗi ngày một tăng cao. Về tôn giáo: Nền kinh tế phục hồi nhanh chóng ? ổn định đồng thời đời sống tâm linh cũng được chú trọng. Năm 1870 bắt đầu đi vào xây cất thánh đường giáo họ. Thánh đường bằng gỗ lim, theo kiểu Á đông, bảy gian hai hàng hiên. Vì xà chạm trổ nổi long vân, mái lợp ngói nam ? hai đầu mái cong giống như đình làng, cao đẹp. Tôn nhận Ðức Mẹ Truyền Tin làm Quan Thầy. Lúc đó Giáo họ Thức Hóa còn là họ lẽ của Giáo xứ Quất Lâm.

Cuối thế kỷ 18 ? Thức Hóa có thầy giảng về giảng đạo và giáo lý. Cũng trong thập kỷ này- Thức Hóa ghi thêm một sự kiện là di chuyển hài cốt 28 vị tử đạo từ Quỳnh côi , Thái Bình về quê hương.

Năm 1883 đến năm 1885 Ðức Giám Mục Thuận lập án các vị tử đạo lầ thứ hai thời Tự Ðức (1861 ? 1862) ở Quỳnh Côi Thái Bình. Sau đó Thức Hóa đã xin và được Ðức Cha cho thực hiện. Việc đưa hài cốt các vị tử đạo về quê hương được tổ chức trọng thể, chu đáo, tốn kém và công phu được tiến hành từng bước. Hài cốt 27 vị được đưa về an táng tại đất thánh phía Ðông Nam Thánh Ðường với nghi thức trọng thể.

Giai Đoạn 1950- 1975

Tháng 9- 1949, quân viễn chinh Pháp đổ bộ vào đồng bằng Bắc bộ nói chung- Nam định nói riêng.

Theo lịch sử cận đại, thì cuộc chiến đã nổ ra từ ngày 20-12-1946, nhưng đối với đồng bằng nói chung và Nam định nói riêng vẫn ổn định.

Thức Hoá ngày ấy là một xã có chính quyền, đoàn thể, có lực lượng vũ trang được thường xuyên tập luyện. Có thời kỳ có cả chuyên gia Nhật bản hướng dẫn tập luyện. Tuy nhiên, người Thức Hoá vì theo đạo Công giáo nên có tư tưởng bài cộng, cho nên các đoàn thể, dân quân du kích bị Việt minh nắm đầu cũng chống lại Việt minh.

Ngay giữa năm 1948, ông xã đội trưởng và hàng chục người dưới quyền đã bỏ đơn vị vào Phát diệm tham gia vào quân đội Quốc gia, để rồi tháng 9 năm 1949 cùng với quân đội Pháp đổ bộ về Bùi chu- Thức hoá. Khi ấy chính quyền cấp xã Thức hoá được chuyển sang chính quyền ?Ban quân chính xã Thức hoá? của chính phủ quốc gia.

Lực lượng dân quân du kích được chuyển sang lính quốc gia. Duy chỉ còn có hai người theo Viết minh là ông Côn và ông Cự chủ nhiệm Việt minh, nhưng sau đó 5,6 tháng- khi đồng bằng Bắc bộ thuộc về chính phủ quốc gia, thì 2 ông cũng phải quy thuận.

Bước vào năm 1950, sự chống đỡ của Việt minh không còn, vì đã rút vào hoạt động bí mật. Chính quyền quốc gia đã kiểm soát hầu hết các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Điạ phận Bùi chu có 6 huyện: Xuân trường, Giao thuỷ, Nam trực, Trực ninh, Hải hậu và Nghĩa hưng- được tách ra một tỉnh riêng gọi là tỉnh Bùi chu Tự trị. Giao thủy là một quận, trung tâm quận là Sa châu. Do cha Đinh Cao San người Thức Hoá làm chánh xứ.

Thức Hoá là một xã, một điểm có thế mạnh ở vùng Nam tỉnh Bùi chu. Có thể gọi là trung tâm chiến lược, vì là giao điểm của 3 huyện: Đông hải hậu, Đông nam Xuân trường và Tây nam Giao Thủy lien kết bằng con lố Nam định- Quất lâm. Có con đê ven song Sò và con song Sò là đường thủy từ đầu tỉnh Bùi chu ra biển Đông qua cửa Lạn môn.

Tình hình đã trở nên yên tĩnh, người dân đã sống trong cảnh hoà bình như không có chiến tranh, vì là Công giáo tự trị, nên Thức Hoá có cuộc sống sôi động và hào hứng hơn. Uy quyên trong tổng, trong miền trở lại với Thức hoá.

Thánh đường được tu bổ: Đóng lại các cửa, thay các cửa bằng gỗ tốt. Thay hai tòa cạnh bằng gỗ sơn son dát vàng. Đóng bàn qùy, ghế ngồi trong nhà thờ. Xây lăng đài lưu kính hài cốt các anh hùng Thức Hoá tử đạo.

Đời sống dân sinh được cải thiện nhanh, trong đó có một số người trở nên giàu có, mua trâu, tâu ruộng đồng xa?. Thức hoá trở thành điểm đến của các nơi trong vùng, các cuộc lễ lớn trong năm được tổ chức rước trọng thể?.

Năm 1950, một vinh dự lớn đối với Thức Hoá là được toà Giám mục Bùi chu (đức cha Phạm Ngọc Chi) phong là xứ đầu hạt. Hạt Thức hoá có 6 xứ là: Thức Hoá, Du hiếu, Quất lâm, Sa châu, Ngưỡng nhân và Hoành nhị. Do cha Lương Tri Thức, chánh xứ Thức Hoá làm Quản hạt. Luôn có 3 cha, 1 thầy xứ và 2 đế 3 thầy giảng, 2 đến 3 lao công.

Tháng 5 năm 1953, quân đội viễn chinh Pháp và quân đội chính quyền quốc gia mở cuộc tấn công lớn, rồi đóng chốt lên đất Thức hoá. Thức hoá trở thành một điểm nóng của cuộc chiến.

Với lợi thế, Thức Hoá là khu dân cư riêng biệt, có đồng ruộng và dân cư bao bọc, nên đồ Thức hoá được mở rộng, đắp lũy đất vây quanh làng, châ dày 2m, mặt lũy 60cm, cao 2m. Cứ 10m lại có 1 ổ tác chiến. Đường làng, khoảng 50m lại có một chiến lũy đắp đất ngang đường là một ổ tác chiến.

Nhà xứ là sở chỉ huy, nhà dòng nữ tu, thánh đường, nguyện xóm như một pháo đài đề chống giữ. Hai mái nhà thờ, mỗi bên đều kẻ 3 hàng chữ lớn khắp mái ?Đồn Thức Hoá?.

Bên ngoài là đội quân du kích Việt minh của các làng xã, có khi là bộ đội chủ lực huyện, chủ lực tỉnh phối hợp bao vây Thức Hoá, nhưng không dám tấn công qua hàng luỹ kiên cố, chỉ nằm ngoài và bắn vu vơ vào chẳng có mục tiêu.

Để bảo vệ đồn, Thức hoá đã phá bỏ các cầu qua song. trừ một cầu cuối nhà thờ. Giải pháp này nhằm mục đích ?nội bất xuất, ngoại bất nhập?.

Những gánh nặng thêm cho việc bảo vệ đồn là: người trong làng đổ vào đồn Thức hoá rất đông. Nào lính, nào người tham gia chính quyền các cấp trong vùng, nào người cấu an lánh nạn, nào người quy thuận, v.v?

***

Sau khi quân đội Pháp thất thủ Điện Biên Phủ (7-5-1954), quân lính đồn Thức hoá tỏ ra hoang mang rã rời. Chính người chỉ huy ngày ấy biết hiện tượng cũng phải thốt lên: Thức hoá mất vào tay Việt minh lúc nào thì mất, không thể chống đỡ nổi.

Rồi đêm ngày 3-5-1954, sau ít giờ giao chiến, quân đội Việt minh đã làm chủ tình hình, quân chính quyền quốc gia thất thủ. Người bị chết, người bị bắt, người trốn chạy. Theo tài liệu thông báo thời chiến thì số chết và bị thương là 40 người, nhưng người Thức hoá đau lòng hơn cả là Cha Tuyên uý Phạm Minh Ký bị tử trận.

Thức Hoá sau ngày ấy là một sự đau đớn khó tả. Những gia đình đau thương vì có người chết trong cuộc chiến ? có gia đình nặng lòng vì có người thân bị bắt, lo lắng về sự trả thù bằng tra tấn đánh đập?.

Một sự rối loạn trong đầu óc ấy ví như ?gà phải cáo? không phải ngày một, ngày hai mà là kéo dài hàng tháng, hàng năm và lâu dài. Một nhà thờ nào đấy có câu:

Chiến tranh như một cơn bão lớn

Thổi xới tung mọi số phận con người

Ngày 20/7/1954 là ngày chia đôi đất nước theo hiệp định Giơnevơ ở Thụy sĩ. Việt nam chia làm 2 miền: Bắc và Nam. Lấy vĩ tuyến 17 làm biên giới tạm thời. Sau hai năm sẽ tổng tuyển cử cả nước, thống nhất tổ quốc.

Ký là vậy nhưng thựchiện không vậy. Tuy nhiên với Thức hoá, hiệp định đình chiến có những sự kiện được coi là giải toả một phần lo lắng.

Trong thời gian đầu tất cả các tù nhân được trao trả tự do hoặc trao đổi tù binh. Mọi người được quyền chọn chế độ mình đã theo hoặc mình thích. Từ những quy định ấy, người Thức hoá chọn chế độ mình đã theo nên lần lượt di cư vào Nam.

Rồi cả cha xứ Thức hoá, người chủ chăn cũng bỏ cả đàn chiên mà đi. Một cuộc ra đi, gọi đúng hơn là cuộc ?đại di dân? dồn dập và quyết liệt. Trong vòng mấy tháng cuối năm 1954 đầu năm 1955 mà đã có hơn 260 gia đình, 1260 nhân khẩu bỏ ra đi vào Nam, chiếm tỉ lệ 65% dân số Thức hoá.

Cuộc đại di dân cũng cọ hậu quả không lường, là: Thức hoá thưa dân, ruộng nhiều, người ở lại phân tâm buồn nản, ruộng đất cấy cày không hết, các làng xã bên đến lấy và nhất là các làng ven song Sò, đồng Cồn Lung, khu vực miếu Bà và đập Tầu, đồng cụ chánh Toàn từ đập Tầu đến đường 21, Rồi đồng cụ Cựu Hậu từ đường 21 trở xuống đến Trùng quang, đến Hà lạn. bốn cánh đồng hơn 200 mẫu không chủ, không cấy, dân làng bên chiếm lấy.

Đất chuyển chủ, thì giáo họ cũng chuyển xứ. Giáo họ Thanh khê- xưa cụ chánh Toàn nâng đỡ xây dựng nay thuộc xứ Trung thành. Giáo họ xưa cụ Cựu Hậu nâng đỡ xây dựng cũng chuyển về xứ Trung thành.

Năm 1956, cải cách ruộng đất.

Theo đường lối chính sách nhà nước: ?Đánh đổ giai cấp địa chủ, thực hiện khẩu hiệu: người cày có ruộng? ! Với ý nghĩa chính trị rất to lớn, một cuộc đấu tranh long trời lở đất; một mặt trận Điện Biên phủ lấn thứ hai, làm cho biết bao nhiêu người phải chết oan ức tức tưởi.

Trong cuộc thanh trừng này, nhà nước phân định thành phần giai cấp ở nông thôn, được chia làm 5 thành phần:

Địa chủ, 2-phú nông, 3-trung nông, 4- bần cố nông, 5- cố nông.

Thức hoá có tới 30 địa chủ, nhưng may mắn là phần lớn số địa chủ đã di cư vào Nam năm 1954. Số còn lại có một Chánh Tổng bị bắn là ông Chánh Đinh Viết Tiến (bị ghép cường hào).

Từ phong trào tố khổ này, ngày nào cũng họp và thường xuyên có các phiên toà xét xử địa chủ. Toà ánh nhân dân do bà chủ tịch làm chánh án phiên toà tuyên án. Không căn cứ pháp luật, mà căn cứ vào tội do dân tố để luận án (trong lúc các cán bộ cứ xách động nhân dân tố cáo lẫn nhau). Tất cả những tài sản, ruộng đất của địa chủ bị tịch thu chia cho nông dân.

Thời thế đảo lộn lăng nhăng

?ng hoá ra thằng rồi thằng hoá ông

Đến năm 1957, nhà nước tiến hành sửa sai cải cách ruộng đất đến những năm đầu thập kỉ 70, 15 năm ấy sự việc diễn biến khá phức tạp.

Do bối cảnh lịch sử trong chiến tranh để lại, những người Thức Hoá ngày ấy đa số đông nam giới, người chủ gia đình hoặc trực tiếp, hoặc có liên quan đến chế độ cũ mà nhà nước gọi là tề (người tham gia chính quyền quốc gia) là ngụy, người đi lính và hầu hết có quan hệ là an hem với người di cư vào Nam. Với những chuyện thường ngày xảy ra trong nhà ngoài xóm như rải tờ rơi, xoá xé khẩu hiệu nhà nước, vẽ lên tường chửi, nói xấu chế độ, v.v?.

Thời kỳ sửa sai cải cách ruộng đất 1957 - rồi 1958 nói một cách khách quan là một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một bên là người Công giáo thực hiện thư chung số 15, 16 và số 17, Toà Giám mục Bùi chu cũng là sửa sai ? ai đấu tố sai phải xin lỗi công khai ở nhà thờ, ai nhận của ?cải cách ruộng đất? chia cho, phải trả lại người mất.

Một bên là chính quyền, đội cán bộ sửa sai bảo vệ thành quả cải cách ruộng đất, kẻ mang đi người kéo lại, có nhiều người không nhận nhà đất?. và cũng có người nhận xin lỗi? xin lỗi? tại buổi lễ Chúa nhật ở Thánh đường.

Con người ấy, sự việc ấy trong suốt thời gian ấy (1957 ? 1971) Thức hoá bị liệt vào nơi sung yếu.

*

Thức Hoá Giai Đoạn Tìm Về Cội Nguồn (1975- 2005)

Đầu năm 1973, tại hội nghị Pari, chính phủ Mỹ ký kết với chính phủ Hà Nội ?ngừng ném bom bắn phá Miền Bắc, rút hết quân đội Mỹ ở Miền Nam về nước?. Miền bắc Viết Nam thật sự có hoà bình.

Cùng với thời kỳ ấy, Thức Hoá đón Linh mục Vinh sơn Trần Ngọc Bút về xứ. Thức Hoá từ đấy chuyển sang giai đoạn mới. Với quá trình 30 năm. Thức Hoá chuyển biến đi lên cả về kinh tế, xã hội và tôn giáo bởi những yếu tố: ?Sự phát huy nội lực vươn lên của con người quê hương cùng với sự hỗ trợ của người Thức Hoá nơi xa, chung lòng, chung sức xây dựng quê hương nên gọi là: Giai đoạn tìm về cội nguồn.

Tuy nhiên cơ chế vĩ mô xã hội có ảnh hưởng tới yếu tố xây dựng quê hương, nên 30 năm ấy được chia làm hai thời kỳ:

Từ 1975 đến 1990. mười lăm năm này, khi miền Nam, miền Bắc Việt nam thu về một mối, không còn chiến tranh, nhưng ở miền Bắc cơ chế bao cấp càng nặng nề hơn. Xã Giao thịnh đã hợp nhất các hợp tác xã nhỏ thành HTX toàn xã với tên gọi Đại Thắng. Thức Hoá còn lại là 3 đội sản xuất của HTX lớn. HTX từ ăn chia theo công điểm chuyển sang ăn chia theo định lượng- ?lao động cho tập thể, ngày nào được tính định lượng mức ăn ngày ấy?.

Đất nước đã về một mối nhưng con người chưa được tự do thông thương. Nếu người bắc muốn vào Nam hay ngược lại, phải có giấy phép cơ quan cấp tình cấp. Vì vậy có một số người Thức Hoá vào Nam thăm thân nhân, dư cư năm 54. Lúc đó chưa có ai ra thăm quê hương ngoài Bắc.

Về tôn giáo và xã hội đều phải tuân theo ?quy ước nếp sống mới? nên: Các lễ lớn, có rước cũng chỉ được rước trong Thánh đường. Một ngày chỉ có 3 lượt chuông hiệu: sang, trưa và tối.

Tang hiếu, cưới xin không được làm cỗ lấy tiền. và giới hạn là từ 3 đến 5 mâm (mâm 4 người). Không làm rạp, không cổ động.